Miếu Hai Thôn

A. GIỚI THIỆU CHUNG

1. TÊN GỌI
Miếu Hai thôn là tên gọi hiện nay để chỉ một ngôi miếu thời Tiền Lý Nam Đế chung của hai thôn Phương Tảo (xã Xuân Hòa) và thôn An Để (xã Hiệp Hòa), huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

2. LOẠI HÌNH DI TÍCH
Miếu Hai thôn là công trình tín ngưỡng được dựng lên để thờ Lý Nam Đế và vợ là Đỗ Thị Khương - những người quê ở Thái Bình, đã có công đánh giặc cứu nước vào thế kỷ thứ 6.
Do có giá trị về nhiều mặt lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, di tích được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích Lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số 235/VH-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986.

B. VỊ THẦN ĐƯỢC THỜ
1. Lý Nam Đế
Lý Nam Đế, tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, là người có tài văn võ, đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội).
Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi ( tức ngày 17/10/503), từ nhỏ, đã tỏ ra là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, đến năm lên 7 tuổi thì mẹ tiếp tục qua đời, ông đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị Thiền sư đi ngang qua, thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu. Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.
Phục tài ông, Thứ sử Tiêu Tư (nhà Lương) đã mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh tập mã chống lại chính quyền đô hộ. Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh, có nhiều người tài theo về phò giúp, trong số đó có Tù trưởng Chu Diên (Hải Dương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục; Tinh Thiều, một người giỏi từ chương; hay các võ tướng Phạm Tu, Trịnh Đô, Lý Công Tuấn
Cuối năm 541, Lý Bí chính thức khởi binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh. Theo sách Lương Thư của Trung Quốc, Thứ sử Tiêu Tư liệu thế không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được tha chạy thoát về Quảng châu. Quân của Lý Bí đánh chiếm lấy thành Long Biên. Mặc dù thắng trận, nhưng Lý Bí mới chỉ kiểm soát được vùng đất Bắc bộ, còn các châu phía nam vẫn trong tay nhà Lương. Tháng 4 năm 542, Lương Vũ Đế sai Trần Hầu (Thứ sử Việt châu), Ninh Cự (Thứ sử La châu), Úy Trí (Thứ sử An châu) và Nguyễn Hán (Thứ sử Ái châu) cũng hợp binh đánh Lý Bí, nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía Nam, làm chủ toàn bộ Giao châu. Cuối năm 542, Lương Vũ Đế lại sai Tôn Quýnh (Thứ sử Giao châu) và Lư Tử Hùng (Thứ sử Tân châu) đưa quân sang đàn áp. Được tin quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh, quân Lương đại bại và tan rã. Chiến thắng này giúp Lý Bí kiểm soát toàn bộ Giao châu, cộng thêm quận Hợp Phố (thuộc Quảng Đông - Trung Quốc hiện nay).
Trong khi Lý Bí phải đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía nam, vua Lâm Ấp cũng có ý định nhòm ngó Giao châu. Tháng 5 năm 543, vua Lâm Ấp mang quân xâm chiếm quận Nhật Nam và tiến đến quận Cửu Đức. Lý Nam Đế sai tướng Phạm Tu cầm quân vào nam đánh tan quân Lâm Ấp, khiến vua nước này phải bỏ chạy .
Sau hai chiến thắng liên tiếp trước quân Lương và quân Lâm Ấp, tháng Giêng năm 544, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Nam Việt Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội); dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội; thành lập triều đình với hai ban văn, võ. Lấy Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ.

2. Hoàng Hậu Đỗ Thị Khương:
Phả lục về thời Hoàng đế tiền Lý Nam Đế và bà Hoàng Hậu Đỗ Thị Khương do Bộ lễ của quốc triều chính bản số. Nhân một hôm ông (Lý Bí) cho quân qua đạo Sơn Nam đến xóm Tây Để thuộc trang An Để huyện Thư Trì phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định. Thấy địa hình ở đây nước chảy bao quanh như rồng uốn khúc. Bên cạnh lại có một dòng suối nhỏ. Nhìn ra phong cảnh hữu tình, nhân dân thì no đủ, phong tục lành mạnh xứng đáng là đất để lập đồn trại nên tức cảnh Ngài ngâm thơ như sau: “Thành thị lâu đài giai bảo ngọc, Giang thanh hoa thảo thống đan thanh, Dư khí trung thành tuy tiểu mạch, Mạc cư chân khả kiến cung thành” Tạm dịch: “Thành thị lâu đài đều là báu ngọc, Non song cây cỏ đẹp tựa như tranh, Khí lành đã chung đúc trong mạch nhỏ, Và đây có thể dựng điện đài, cung thành. Sau đó ông truyền quân sĩ và dân sở tại dựng một đồn canh bên cạnh dòng suối quay về bắc phương. Đặt địa bàn kiêm chữ Bính Tý - Bính Ngọ. Dựng xong đồn Ngài lại đưa quân đi đánh đông dẹp bắc và thường thường cho quân lui tới cũng như về nghỉ tại đây. Lại nói: Cũng thời ấy ở khu Tây Để có người con gái nhà họ Đỗ tên gọi nàng Khương. Theo tích cha nàng là Đỗ Công Cẩn mẹ nàng là Bùi Thị Hoan gốc người Tây Để gia đình làm nghề thuốc. Đỗ Công ngoài năm mươi tuổi vẫn chưa có con. Vợ chồng cụ thường đi cầu đền kia phủ nọ. Lần ấy sau khi đi cầu tự ở chùa Hương Tích sơn khi về bà nằm mộng thấy một người trao cho một chiếc gương vuông tứ diện. Sau đó bà thụ thai. Mùa đông năm Đinh Sửu ngày mồng mười tháng 11 sinh ra nàng. Lớn lên càng ngày nàng càng đẹp, má phấn môi son mắt phượng mày ngài. Cha mẹ nàng rất quý đặt tên là nàng Khương. Năm nàng 16 tuổi thì nhan sắc tuyệt trần như tiên trên bồng lai, như hoa nở ở trong vườn thượng uyển. Còn tài thì từ khi nhỏ nàng học rất thông minh. Người đương thời ai cũng bảo nàng là một chàng trai lạ ở chốn mỹ nhân. Do vậy mà cung trăng còn khóa, lá ngọc chưa khoe, vẫn chưa nơi định liệu. Đương thời lúc ấy ngài Lý Bí nghe tin đồn đại về tài sắc của nàng ngài linh tính có thể đây sẽ là người giúp ta dựng nước. Sau ít bữa ngài đưa tin cầu hôn xin cụ Đỗ Công Cẩn cho phép ngài được cùng nàng kết duyên phu phụ. Đỗ Công mừng nhận lời và cho chọn ngày lành đưa lễ. Lúc ấy nàng đã 16 tuổi. Khi cưới xong Lý Công lập bà là đệ nhất cung phi và để bà ở lại Tây Để nuôi dưỡng cha mẹ, chăn tằm dệt lụa, chăm sóc hậu cần giúp binh sĩ của ngài có lương ăn đánh giặc. Tiếp đó ngài cho mổ bò giết trâu khao cả quân dân. Và cho tuyển luôn ba mươi sáu đinh tránh ở đây làm gia thần cốt lõi tin cậy. Rồi ngài lại cất binh cả hai đạo sơn quân (Bắc đạo và Nam đạo) chọn ngày lành tiến về Thăng Long đánh giặc. Lấy Tây Để làm nơi tập trung quân xuất trận. Thuyền bè quân lính đã tập kết cuộc tập kích chiến lược về Thăng Long giải phóng được quyết định. Khi xuất trận quân lính xuống thuyền với khí thế oai phong lẫm liệt. Ngài ứng khẩu ngâm thơ: “Thuyền đầu chinh cổ thiên lý oanh lôi điện chi thanh. Lộ thượng tinh kỳ lưỡng ngạn nhiều long nhi chi thế” Tạm dịch: Quân lính bước chân xuống thuyền Chiêng trống vang xa ngàn dặm Trên đường hai bên tả ngạn hữu ngạn Cờ bay uốn khúc như rồng vậy Quân đến Thăng Long ngài cho đánh một trận rất lớn. Thái thú Tiêu Tư thua đại bại phải bỏ thành và rút quân chạy về nước. Ngài cho quân lính đóng giữ thành cũng thời ấy còn có bọn giặc cỏ Xiêm luôn luôn quấy nhiễu. Ngài cho đại tướng quân Phạm Tu đem quân đánh tan, dẹp yên cả giặc cỏ đưa đất nước trở lại thanh bình. Ngài lên ngôi hoàng đế. Đặt tên nước là Vạn Xuân. Lấy Long Biên thành làm kinh đô Tiếp đó ngài hạ chiếu phong bà Đỗ Thị Khương là chính cung hoàng hậu và cho mời bà về triều. Lấy Tây Để là quê chính gốc của bà. Khi cụ Đỗ Công lâm bệnh rồi qua đời. Được tin hoàng đế cử một tướng giỏi hộ tống và cho phép bà về cử hành tang lễ cho cha kèm theo là vàng bạc, châu báu. Tiếp đó mẹ bà vì thương chồng nên lại lâm bệnh nặng. Thuốc thang không chuyển, cúng lễ cầu đảo không thuyên rồi mẹ Bà cũng qua đời ngay trong năm đó. Bà viết biểu tâu vua cho phép ở lại chịu tang cha mẹ. Hoàng đế bằng lòng và còn ban cho thêm một trăm hốt (100) bạc vàng, hàng ngàn tấm tơ lụa, hàng tấn heo, trâu, bò, gạo và cử người của triều đình về làm chay cho vợ chồng cụ Cẩn. Hoàng hậu đã đem những thứ vua ban chia cho những người nghèo khó, già cả, cô nhi quản phụ không nơi nương tựa. Nhân dân Tây Để tất thẩy đều coi công ơn đó như trời như biển như cha như mẹ. Lại nói về thời ấy Tiên đế giữ nước được 7 năm thì nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên đem đại quân sang báo thù, rửa hận cái nhục đại bại của 7 năm về trước. Sau một thời gian chống trả quyết liệt không phân thắng bại. Quân giặc thì đông thế giặc thì mạnh hơn gấp bội. Tiên đế phải cho rút quân về đóng ở hồ Điển Triệt. Vì đại thế hiểm trở quân Lương không dám tới gần. Trải qua hàng năm dòng dã. Thế rồi vào mùa hè tháng 6 nước lũ dâng cao, sông lớn tràn đầy, đổ dồn vào hồ gây lụt úng khắp nơi. Với khó khăn đó của ta Trần Bá Tiên đem chiếc thuyền theo nước tiến thẳng vào hồ. Sức vua đã yếu ngài bèn trao quyền cho đại tướng Triệu Quang Phục một tướng giỏi đầu Triều. Còn Tiên đế thì rút về động Khuất Liêu rồi mất ở đó ngày mười rằm tháng bảy. Triệu Quang Phục lo an táng cho Tiên đế xong thì sau tam nhật (3 ngày) trời đất tối tăm, mưa to gió lớn. Sau trận mưa thì phần mộ của Tiên đế được mối xông thành một gò cao và to bao bọc lấy phần mộ. Cũng thời gian này, hoàng hậu ở quê được tin tiên đế mất bà kêu khóc thảm thiết song biết làm sao vì nước đang còn có giặc và triều đình chỉ báo tang chứ chưa có điều kiện để đưa hoàng hậu đến nơi tiên đế băng hà yên nghỉ được. Tháng hai năm sau giặc nước đã tan. Vâng lệnh triều đình hoàng hậu chọn sáu thị tì cùng sứ giả quân lính triều đình đưa mình về Khuất Liêu động viếng mộ Tiên đế. Trước khi đi hoàng hậu truyền cho dân lập đền thờ Tiên đế ngay ở đồn trại bên bờ suối thuở xưa rồi viết thần hiệu Tiên đế là Tiền Lý Nam Đế để dân biết mà thờ phụng. Và ban cho dân 10 hốt vàng bạc mua thêm ruộng đất làm của công chi vào lễ nghĩa. Hoàng hậu còn nói thêm với dân rằng: “Ta với dân đã thành cố nghĩa. Ơn nặng nghĩa dày từ xưa chứ đâu phải một ngày” Vậy chớ quên lời ta dặn và sau này ta có trăm tuổi già nhân dân cũng viết thần hiệu ta mà thờ cùng tiên đế ngay tại nơi quê hương này. Nhân dân lậy tạ vâng mệnh. Xong xuôi mọi việc ngày mồng 10 tháng 2 hoàng hậu cùng 6 thị nữ và sứ giả triều đình về động Khuất Liễu viếng mộ chịu tang Tiên đế. Sau khi hành lễ tại triều đúng giờ Nhâm Ngọ ngày mười sáu tháng 2 đoàn đại biểu triều đình và quê hương gia quyến tới mộ Tiên đế dâng hương. Vừa viếng xong tự nhiên trời đất đổi màu, mây đen phủ kín, gió thổi sấm sét vang trời và chỉ sau khoảnh khắc mây tan, trời tạnh và hoàng hậu đã biến mất và bên phần mộ tiên đế lại có thêm một gò đất cao to. Lúc ấy là giờ Nhâm Ngọ ngày mười sáu tháng 2. Những người đi theo thấy vậy tất cả đều kinh sợ. Khi trở lại Tây Để sáu thị tỳ kể lại cho dân làng biết và sự việc lại khớp với sự kiện chiều ngày mười sáu tháng 2 tại quê hương là: khoảng 1h chiều ngày 16/2 các cụ bô lão cùng tất cả dân làng người người ai ai cũng trông thấy một chòm sao lạ lớn tựa một dải lụa đào bay ngang trời từ phía Hưng Yên bay tới. Đến cửa miếu thì chòm sao hạ xuống (lúc ấy gọi là đền) bay vào trong đền rồi biến mất. Cả làng đều lo sợ, không hiểu hoàng hậu về Khuất Liêu thế nào mà lại có sự lạ vậy. Cùng với tin 6 thị tỳ kể lại lúc ấy nhân dân và các bô lão mới biết là hoàng hậu đã hóa thân hiển thánh. Sau đó các cụ bô lão cùng nhân dân trong làng đã theo đúng lời dặn của hoàng hậu và đã viết thần hiệu của hoàng hậu để thờ cùng tiên đế. Từ đó ta gọi là thờ đồng vị nhị vị Thánh đế.

C. NIÊN ĐẠI XÂY DỰNG, TRÙNG TU DI TÍCH
Theo truyền thuyết địa phương thì ngôi miếu này phải được khởi dựng từ thế kỷ thứ 6 để thờ Lý Nam Đế và Hoàng Hậu. Tuy nhiên, dấu vết của lần khởi dựng đó đã không còn. Những bằng chứng rõ rệt nhật là các bức chạm rồng mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 17 - đầu thế kỷ 18 hiện còn ở Trung tế cho thấy ít nhất đến giai đoạn đó, ngôi miếu đã là một thực thể văn hóa của làng xã. Sang thế kỷ 19, ngôi miếu tiếp tục được quan tâm tu sửa của địa phương và được triều đình ban sắc công nhận, dấu vết còn lại có thể nhận biết qua các di vật như chuông đồng, tranh thờ, hương án, sắc phong...
Diện mạo kiến trúc hiện nay của ngôi miếu là kết quả của những lần trung tu, tôn tạo đầu thế kỷ 20. Trong khám thờ nơi Hậu cung còn dòng chữ Duy Tân ngũ niên tu tạo, cho biết ngôi miếu được tu tạo năm Duy Tân thứ 5 (1911) và những mảng chạm khắc trên các bộ vì cơ bản mang phong cách nghệ thuật giai đoạn này. Cũng ở giai đoạn đầu thế kỷ 20, ngôi miếu còn được bổ sung thêm 1 số cổ vật như hoành phi, câu đối, ngai thờ... để ngày một hoàn chỉnh, khang trang hơn.
Năm 1976 ngôi miếu được tu bổ trên hệ mái, đảo ngói, đắp lại con giống. Năm 1986 ngôi miếu được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 1999 - 2000 tu sửa nhỏ, làm lại một số bức chạm tại Trung tế. Gần đây nhất là năm 2012 sân, vườn, chân cột của miếu được tu sửa, tôn tao hơn với kinh phí được cấp khi đó là 150 triệu đồng. Năm 2016 tu sửa cấp thiết và tổ chức diệt mối tổng kinh phí 100 triệu, năm 2018-2019 được UBND tỉnh đầu tư dự án trùng tu di tích tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng. Năm 2021 tu sửa kè đá hồ bán nguyệt, xây dựng lại nhà khách với nguồn vốn XHH hơn 1 tỷ đồng. Năm 2023 Công ty cổ phần tập đoàn T&T về công đức tài trợ tu sửa hệ mái, lát nền lại toàn bộ nhà, sân của di tích và sân, chỉnh sửa nghi môn với tổng số kinh phí hơn 2 tỷ đồng và tiếp tục xin được tài trợ mở rộng di tích miếu Hai Thôn với quy mô hơn 2ha.
Có thể thấy, từ khi hình thành vào cuối thế kỷ 17, ngôi miếu đã luôn được quan tâm tu sửa để ngày một khang trang hơn, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương.